Luận án Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - Đặc điểm và xu hướng phát triển

doc 155 trang Minh Thư 01/08/2025 230
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - Đặc điểm và xu hướng phát triển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docluan_an_nguon_nhan_luc_nong_thon_trong_qua_trinh_cong_nghiep.doc

Nội dung tài liệu: Luận án Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - Đặc điểm và xu hướng phát triển

  1. LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỀ TÀI: Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - Đặc điểm và xu hướng phát triển 1
  2. MỤC LỤC MỞ ĐẦU...............................................................................................................................3 Chương 1: NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CNH-HĐH Ở NƯỚC TA .........................8 1.1. NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI .................................................................................................8 1.2. VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CNH-HĐH Ở NƯỚC TA.........................................................................................33 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY - ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN ........................51 2.1. THỰC TRẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY......................................................................................................................51 2.2. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA .........................................79 Chương 3: NHỮNG NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA ........................................................................93 3.1. NHÓM GIẢI PHÁP VỀ GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO.........................................................94 3.2. NHÓM GIẢI PHÁP VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI.............................................................103 3.3. NHÓM GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH TRỊ - VĂN HÓA ....................................................123 KẾT LUẬN ........................................................................................................................136 NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ...........................................................................................................................139 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................140 PHỤ LỤC ...........................................................................................................................155 2
  3. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). CNH, HĐH là xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới, khi các nước đó muốn tiến tới một xã hội hiện đại. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta. CNH, HĐH không chỉ đơn thuần là công cuộc xây dựng kinh tế, mà còn là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để đảm bảo cho sự nghiệp này thành công, Đảng ta đã xác định phải: "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững" [15, tr. 85]. Đây là quan điểm cơ bản chỉ đạo toàn bộ sự phát triển của đất nước. Chăm lo bồi dưỡng, phát huy nguồn lực con người với chất lượng cao là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của đất nước. Cho nên, Đảng ta đã xem con người không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực của sự phát triển. Trong các nguồn lực phát triển kinh tế xã hội (tài nguyên thiên nhiên, vốn; nguồn nhân lực; khoa học công nghệ...), thì nguồn nhân lực (NNL) giữ vai trò quyết định. Cho đến nay, nước ta vẫn là một nước nghèo và kém phát triển. Tài nguyên thiên nhiên đa dạng nhưng khó khai thác, thiếu vốn nghiêm trọng, kỹ thuật còn lạc hậu. Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực càng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó phải trở thành động lực thực sự của sự phát triển. Là một nước kém phát triển về kinh tế, hiện nay ở nước ta có gần 80% dân số và hơn 70% lao động nước ta còn sống ở nông thôn. Hơn nữa, nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta lại phân bố không đều, chủ yếu tập trung sản xuất nông nghiệp độc canh, thuần nông. Chỉ có hơn 15% nguồn nhân lực ở nông thôn hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Trong khi đó, dân số và lao động hàng năm ngày một gia tăng, đất nông nghiệp ngày một giảm dần... Đất chật, người đông, ngành nghề và dịch vụ kém phát triển đã và đang là một sức Ðp lớn đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa cung và cầu lao động, việc làm. Việc giải quyết các mâu thuẫn đó đang trở thành một vấn đề hết sức bức xúc. Làm thế nào để giải quyết có hiệu quả những mâu thuẫn đó nhằm phát huy, sử dụng, phát triển được NNL dồi dào ấy phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước? 3
  4. Thực tiễn ở nước ta trong những năm đổi mới vừa qua và kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy có nhiều giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở nông thôn. Nhưng lùa chọn giải pháp nào? Phương pháp thực hiện từng giải pháp trong mỗi giai đoạn phát triển ra sao? Nếu lùa chọn và thực hiện có hiệu quả những giải pháp đúng thì với nguồn nhân lực dồi dào, phong phú ở nông thôn nước ta, chóng ta không những tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, mà còn giải quyết được những nội dung quan trọng liên quan tới chính sách xã hội - đó là vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống nhân dân, góp phần giải quyết những tiêu cực xã hội do tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm và mức sống thấp gây ra. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta hiện nay, nhận diện đúng những đặc điểm và xu hướng phát triển của nó để tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu nhằm sử dụng, phát triển nguồn nhân lực nông thôn phục vụ CNH, HĐH đang là một đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm gần đây, vấn đề con người và nguồn lực con người đã từng thu hót sự quan tâm chú ý của nhiều nhà lãnh đạo, quản lý, của giới lý luận trong và nước ngoài. Do vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này được công bố. Nổi bật nhất là Chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước: "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" mang mã số KX.07 do GS.TS. Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm (1991 - 1995). Đây là công trình nghiên cứu sâu sắc, khá toàn diện về yếu tố con người trong quá trình đổi mới và đưa ra được cái nhìn tổng thể, mang tầm chiến lược về vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Liên quan tới đề tài luận án còn có một số đề tài khoa học cấp Bộ: "Xây dựng cơ sở lý luận cho chiến lược phát triển NNL khoa học công nghệ" của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường do TS Nguyễn Thị Thu Anh làm chủ nhiệm, Hà Nội, 7/1997; "Lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước đến năm 2020" của Ban Nguồn nhân lực - Viện nghiên cứu chiến lược - Bé Kế hoạch và Đầu tư 1/1998 do TS Trần Thị Tuyết Mai làm chủ nhiệm. Ngoài ra, trong những năm gần đây, nhiều tác giả đã đề cập đến vai trò của nhân tố con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tính tích cực xã hội của con người và con đường nâng cao vai trò nhân tố con người. Nhìn chung, các tác giả đã tập trung nghiên cứu vấn đề con người và vai trò của nó trong công cuộc đổi mới, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước ở những góc độ khác nhau, như: "Bàn về chiến lược con người"- Viện Thông 4
  5. tin khoa học - kỹ thuật Trung ương, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990; Đỗ Mười: "Chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh", Tạp chí Thông tin lý luận, số 3, 1993; Nguyễn Văn Sáu: "Phát huy nhân tố con người trong đổi mới kinh tế", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993; Phạm Minh Hạc (chủ biên và tập thể tác giả): "Nghiên cứu con người, giáo dục, phát triển và thế kỷ XXI", Hà Nội, 1995; Nguyễn Trọng Chuẩn: "Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Triết học, số 3, 1994; Hoàng Chí Bảo: "Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn lực con người", Tạp chí Triết học, số 1, 1993; Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm: "Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Nguyễn Thế Nghĩa: "Nguồn nhân lực- động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Triết học, số 1, 1996; Nguyễn Thị Hằng: "Phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam đến năm 2010", Tạp chí Cộng sản, số 7, 1999... Thời gian gần đây có một số luận án tiến sĩ đã bảo vệ thành công về đề tài nguồn nhân lực, như các luận án của Trần Kim Hải: "Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta", Hà Nội, 1999; của Nguyễn Thị Tó Oanh: "Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay" Hà Nội, 1999; của Hà Quý Tình: "Vai trò của nhà nước trong việc tạo tiền đề nguồn nhân lực cho CNH,HĐH ở nước ta", Hà Nội, 1999. Các tác giả nêu trên đã nghiên cứu vấn đề nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế chính trị và CNXH khoa học. Trên nền chung của việc nghiên cứu con người và nguồn nhân lực, đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về nông thôn, nông nghiệp và nguồn lao động ở nông thôn từ những bình diện khác nhau, như công trình của Trương Việt Vò: "Lao động và việc làm ở nông thôn" trong cuốn "Kinh tế - xã hội học nông thôn Việt nam hiện nay", Nxb Tư tưởng văn hóa, Hà Nội, 1991; Nguyễn Thị Hằng: "Định hướng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn", Tạp chí Lao động và Xã hội, tháng 9-1993; Hà Quý Tình: "Nguồn nhân lực nông thôn - Thực trạng và giải pháp", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 10, 1998; Nguyễn Văn Trung: "Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn để CNH, HĐH nông thôn nông nghiệp nước ta", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Chu Tuấn Nhạ: "Khoa học, công nghệ phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn", Tạp chí Cộng sản, số 2, 1999; Nguyễn Ngọc Tuân: "Nước ta đi con đường nào để đưa nông nghiệp truyền thống lên nông nghiệp hiện đại?", Tạp chí Cộng sản, số 14, 1999; Trương Công Hùng: "Kinh tế trang trại nông nghiệp ở nước ta", Tạp chí Cộng sản số 6, 1999; Trần Đức: "Mấy vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, số 15, 1999... 5
  6. Tuy nhiên, những công trình trên mới chỉ bàn đến hiệu quả sử dụng lao động, nguồn nhân lực trên phạm vi toàn xã hội. Một số tác giả tuy có bàn đến vấn đề sử dụng NNL nông thôn, chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn,... nhưng mới chỉ nêu lên những nét khái quát như một phác thảo chung, chưa đi sâu nghiên cứu cơ bản và có hệ thống về những giải pháp nhằm sử dụng nguồn nhân lực to lớn dồi dào ở nông thôn. Đề tài: "Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - Đặc điểm và xu hướng phát triển" là cố gắng bước đầu của tác giả góp phần vào việc nghiên cứu nguồn lực con người nông thôn Việt Nam hiện nay. 3. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của luận án Mục đích của luận án Nghiên cứu cơ sở lý luận và một số vấn đề thực tiễn của nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta hiện nay, chỉ ra đặc điểm và xu hướng phát triển của nó. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng, phát triển nguồn nhân lực nông thôn nước ta phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Nhiệm vụ của luận án + Làm rõ khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực nông thôn trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay. + Nêu lên một bức tranh chân thực về thực trạng của nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta hiện nay, chỉ ra đặc điểm và xu hướng phát triển của nó. + Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng, phát triển nguồn nhân lực nông thôn trong sự nghiệp CNH,HĐH ở nước ta hiện nay. Giới hạn nghiên cứu của luận án Luận án không đi sâu nghiên cứu toàn bộ vấn đề về nguồn nhân lực nông thôn nói chung mà chỉ tập trung nghiên cứu những đặc điểm và xu hướng phát triển của nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta hiện nay. Từ đó, dưới góc độ khoa học triết học, luận án góp phần đề xuất những giải pháp nhằm sử dụng, phát triển nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện trong văn kiện các Đại hội và các Nghị quyết Trung ương từ 1986 đến nay. - Luận án được thực hiện bằng việc vận dụng những quan điểm phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó, đặc biệt chú 6
  7. ý các phương pháp lịch sử và lôgíc, phương nghiên cứu hệ thống, phương pháp thống kê kinh tế - xã hội... 5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án - Làm rõ được thực trạng của việc sử dụng, phát triển nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta từ năm 1986 đến nay. - Nêu lên được các đặc điểm và xu hướng phát triển nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta trong thêi kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. - Đề xuất những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm sử dụng, phát huy có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình CNH, HĐH hiện nay ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án - Làm sâu sắc, phong phú thêm quan điểm về việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người ở nông thôn thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hiện nay ở nước ta. Góp phần bổ sung thêm những nhận thức mới trong việc thực hiện các giải pháp nhằm sử dụng, phát triển vai trò của nguồn nhân lực ở nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ CNH, HĐH ở nước ta. - Kết quả nghiên cứu luận án có thể được vận dụng trong chỉ đạo thực tiễn ở các địa phương nhằm phát triển nông thôn mới và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Kết quả nghiên cứu luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy các môn khoa học Mác- Lênin trong các trường đại học, cao đẳng và các trường chính trị ở nước ta hiện nay. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương, 7 tiết. 7
  8. Chương 1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA 1.1. NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1.1. Khái niệm "nguồn nhân lực" và "phát triển nguồn nhân lực" Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã bàn khá sâu sắc về bản chất con người, vÒ vai trò của con người, về vai trò của nhân tố con người trong quá trình phát triển xã hội Gần đây, trong quá trình vận động của nền kinh tế - xã hội, việc xem xét nhân tố con người (NTCN) với tư cách là một nguồn lực xã hội của sự phát triển đã dẫn tới sự hình thành khái niệm mới: Nguồn nhân lực (hay nguồn lực con người). Qua các công trình nghiên cứu gần đây trên thế giới và trong nước, chúng tôi thấy quan niệm về NNL được đề cập tới từ các góc độ sau: - Theo lý thuyết phát triển, NNL theo nghĩa rộng là nguồn lực con người (Human Resources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ (vùng, tỉnh), nó là một bộ phận cấu thành các nguồn lực, có khả năng lao động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lực vật chất (Physical Resources), nguồn lực tài chính (Financial Resources). - Trong lý luận về tăng trưởng kinh tế, NNL được đề cập đến với tư cách là một lực lượng sản xuất chủ yếu, sản xuất ra hàng hóa và dịch vô. Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là những lực lượng lao động cơ bản nhất trong xã hội. Việc cung cấp đầy đủ và kịp thời lực lượng lao động (LLLĐ) theo nhu cầu của nền kinh tế là vấn đề quan trọng nhất đảm bảo tốc độ tăng trưởng sản xuất và dịch vụ. - Trong lý luận về vốn người, NNL trước hết như một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài ra, lý luận về "vốn người" còn xem xét con người từ quan điểm nhu cầu về các nguồn lực của phát triển. Đầu tư cho con người được phân tích tương tự như đầu tư vào các nguồn vật chất, có tÝnh đến tổng hiệu quả của đầu tư này, hoặc thu nhập mà con người và xã hội thu được từ đầu tư đó. Cách tiếp cận này được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước hiện nay [79, tr. 138] 8
  9. Theo cách tiếp cận trên, Ngân hàng thế giới cho rằng: NNL là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp...) mà mỗi cá nhân sở hữu. Ở đây, NNL được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác, như vốn tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên... Việc đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững. Vì vậy NNL là một nguồn vốn đặc biệt. Dùa trên cách tiếp cận này, Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm NNL và cho rằng: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước. Đây là yếu tố được coi là quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng xã hội - kinh tế. Ở Việt Nam, quan niệm của các nhà khoa học về nguồn nhân lực được thể hiện trong chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước: "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội", mang mã số KX-O7. Theo đó, NNL được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc [19, tr. 328]. - Theo hướng tiếp cận khác, NNL được xem xét trong mối quan hệ với các nguồn lực khác và nó được xem như nguồn lực cơ bản, quan trọng, làm động lực cho sự phát triển xã hội: "Thông thường, Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn viết, những nguồn lực làm cơ sở cho chiến lược phát triển của một nước có thể là nguồn lực tự nhiên như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, có thể là cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tạo ra trong các giai đoạn trước đó, có thể là nguồn lực ở bên ngoài tự nhiên như vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường, cũng có thể là nguồn nhân lực..." và "lịch sử cho thấy đây là nguồn lực lâu bền nhất trong sự phát triển của mọi quốc gia từ trước đến nay... Cho nên dù có những nguồn lực khác mà không có những con người tương xứng đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó, đủ trình độ nắm bắt và làm chủ kỹ thuật và công nghệ hiện đại và hiện đại nhất, nếu không có một môi trường kinh tế, chính trị xã hội, tâm lý và dư luận xã hội thuận lợi cho con người hoạt động thì khó có thể đạt được sự phát triển như mong muốn" [8, tr. 30-32]. Lại có quan niệm cho rằng: "Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người" [4]. Tựu chung lại, các cách tiếp cận trên đây thể hiện hai phương diện xem xét khái niệm nguồn nhân lực. Một cách tiếp cận những mối liên hệ bên ngoài của nguồn lực con người; còn một cách tiếp cận với NNL từ mối quan hệ và kết cấu nội tại của nã. Từ mét số cách tiếp cận trên có thể thấy rằng NNL không chỉ đơn thuần là lực 9
  10. lượng lao động đã có và sẽ có, mà nó là cả một tập hợp, một đa phức hợp bao gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc... Trong buổi gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các nhà khoa học - công nghệ các tỉnh thành phố phía Bắc, Thủ tướng Phan Văn Khải nhấn mạnh: "Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống dân tộc ta" [30]. Điều khẳng định trên có ý nghĩa rất quan trọng định hướng cho việc nhận thức và phát huy tiềm năng nhân lực trên đất nước ta. Con người và nhân tố con người được xem xét bởi hai phương diện: cá nhân và xã hội. Vì vậy, khi xem xét cấu trúc NNL trước hết phải tính đến phương diện cá thể của NNL, bao gồm: thể lực, trí lực, đạo đức.... (những yếu tố này cấu thành chất lượng cá thể của NNL và nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển xã hội của NNL, khi xét trên quy mô xã hội). Mặt khác, khi xem xét NNL cũng phải xem xét mặt xã hội và tính chất xã hội hóa của nó với tư cách là sức mạnh tổng hợp của lực lượng xã hội, những con người tham gia vào sự phát triển xã hội ở mọi lĩnh vực của đời sống. Đây chính là biểu hiện năng lực xã hội (là nhân tố nội sinh, nhân tố bên trong của sự phát triển). Có thể nói rằng chất lượng xã hội của NNL là thước đo chủ yếu của những năng lực xã hội xét trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Tính chất xã hội của nó biểu hiện qua: dân số, chất lượng dân số, chất lượng đời sống dân cư và chất lượng của lực lượng lao động. Mặt xã hội đó phản ánh trình độ thực tế của sự phát triển năng lực xã hội, nó cũng cho thấy tiềm năng của sự phát triển đó. Khi xem xét cấu trúc của NNL, nhất là NNL ở nước ta hiện nay cần phải đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa: nguồn lực tiềm tàng và nguồn lực hiện hữu. Do đó, việc quản lý NNL đòi hái vừa phải đặc biệt quan tâm và chăm sóc đối tượng đang làm việc trực tiếp, có chiến lược và chính sách đúng đắn nhằm hướng tới chất lượng đang đào tạo, vừa phải có tầm nhìn triển vọng đối với lực lượng đang lớn lên, đang sinh ra và tiếp tục sinh ra Từ những điều nêu trên có thể thấy, NNL được đề cập đến như một nguồn lực tổng hợp với các yếu tố hợp thành: sức lực và trí tuệ, số lượng cùng với các đặc trưng về chất lượng (như trình độ văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ, phong cách làm việc...), trong đó, con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội, là một yếu tố cơ bản của phát triển sản xuất. Nếu coi NNL là tiềm năng con người nói chung, những tiềm năng mà con người có thể đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, thì "sử dụng NNL" chính là khơi dậy và phát huy những tiềm năng đó. Phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình biến đổi của NNL 10